Hiển thị các bài đăng có nhãn SơnTT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SơnTT. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011
KIẾP BỤI ĐỜI NGƯỜI 3: LANG THANG
Đã hơn 20 năm kể từ khi tôi rời trường đại học, bước vào “kiếp phôi pha”, đi không biết bao chặng đường, qua bao miền đất lạ, gặp được mấy người thâm giao, chỉ còn nhớ là đã dùng hết bốn cuốn hộ chiếu đầy kín dấu thị thực và giờ là cuốn thứ năm. Những ngày đầu tôi đi dọc ngang Châu Âu bằng xe lửa. Và lúc trước trường tôi học cũng ngay sát sân ga. Nên đến giờ tôi vẫn còn đôi khi giật mình như nghe thấy tiếng còi tàu đâu đó vọng về.
Năm 90 sang Thụy Sĩ, tôi đã chuẩn bị rất kỹ cho chuyến đi đầu tiên sang nước tư bản tươi đẹp, bản đồ đi đường, bản đồ nơi đến…, va-ly đầy hơn nửa là mì ăn liền, “tàu ngầm” - kỹ thuật đun sôi nhanh hiện đại của Nga, và hai trăm đô la quý giá luôn sát tim. Thế mà tôi bị nhịn đói gần 2 ngày trên tàu, vì nhầm giờ, cứ tưởng là sáng nay đi chiều tới, bụng cồn cào cả đêm mà tàu vẫn chưa tới, nhìn lại vé tàu thì té ra cũng giờ đó nhưng hôm sau tàu mới tới. Quê quá.
Đến ngày gần rời Thụy sĩ thì bức tường Berlin đổ, hai nước Đức thành một, không còn nước Đức XHCN nữa, tôi không thể đi về đường cũ qua Đông Đức. Đành vòng vèo qua Áo, vào Hung, qua Nam Tư… Tàu đi qua nhiều cánh đồng xanh rì bát ngát, đôi lúc nhìn thấy xa xa những túm dân ngựa xe tụ họp trên đồng cỏ, lúc chiều hôm, bên lửa bập bùng, nghĩ mình chắc có chút máu Dzigan.
Quả vậy, cuối 91, ngậm ngùi sau 1 năm tu nghiệp buôn bán ở Ba Lan, tranh thủ đi lại Trieste (Ý ) làm khoa học, quay về nước tôi lại ngược xuôi các miền đất phía Bắc, vượt các dòng sông biên giới, qua những cánh rừng non xanh, hay nẻo đường mờ bụi đất đỏ, vào sâu Trung Quốc, lang bạt kỳ hồ với dân buôn lậu, kết bạn với khách giang hồ thập phương,... lúc thuyền nan, lúc xe thồ, rồi có hôm ngả mình trong ngôi nhà vạn sao…
Chúng ta ai cũng có những giấc mơ về tương lai. Và lúc bé có nhiều mơ ước đẹp. Rồi thời gian qua đi. Lo toan với bao công việc hàng ngày, với yêu thương với giận hờn, dường như ta cứ đi mãi vào cõi xa xăm. Cho đến khi một ngã rẽ xuất hiện, như tiếng kêu gọi thức tỉnh vang lên trong ta.
Có thể dù vẫn đang cố gắng dần từng bước biến ước mơ thành hiện thực, nhưng ta lại như đang lạc vào miền đất lạ, lòng chợt hỏi, sao tôi lại đến chốn này?
Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011
KIẾP BỤI ĐỜI NGƯỜI 2: QUÁN TRỌ
Mấy năm gần đây tôi hay mất ngủ. Phần vì căng thẳng công việc, phần vì tuổi già đến sớm (?). Nhiều hôm về đến nhà chỉ còn chó vẫy đuôi đón, gác cổng soi đường. Lên giường dù muộn thế nào nhưng tôi cũng thường phải đọc dăm ba trang sách mới chợp mắt được. Có khi chợt tỉnh dậy thấy đèn tường còn sáng chói, có khi ngủ vùi trong cơn mơ lẫn lộn. Tôi hay mơ lắm.
Lúc thấy người đẹp kề sát bên mà chân tay nặng nề không sao cất lên được để giữ người đẹp trong vòng tay, khi thấy bên đường có bóng người quen, vẫy tay cười nói, mà tìm mãi không có đường sang, dòng xe cộ đi hoài chẳng ngừng. Rồi lại có hôm cười nói vui vẻ với người bạn học cũ từ thửa nào, lâu lắm rồi không gặp lại… Và tôi thường hay thức giấc vì bất kỳ một tiếng động nào chợt đến, tiếng chó sủa nhà bên, tiểng còi xe tải chạy vội, hay tiếng chuông điện thoại đặt giờ. Lúc đó dòng suy tưởng mung lung dường như rơi phịch xuống thực tại, và tôi hiểu, tôi vừa trở về từ cơn mơ, và tôi vẫn nằm trên giường. Tôi trườn người, ngọ nguậy, hé mắt nhìn ánh sáng mờ ngoài khung cửa.
Tôi đã về với thực tại. Tôi dần tỉnh thức. Có lẽ tiếng gọi thức tỉnh cũng không khác mấy , khi bạn đang đi miên man trong dòng đời, đến những điểm ngoặt, khúc rẽ, tiếng động bất chợt rọi vào tâm trí làm bạn phải bừng tỉnh đối mặt với những lựa chọn, thách thức nào đó. Và ngày mới dần đến trong hành trình đời ta. Nhà thơ Hồi giáo vĩ đại (thế kỷ 13), J.Rumi có nhắn nhủ ta:
“Đời người như quán trọ.
Sáng nào cũng có khách phương xa
Vui buồn, hèn sang, sơ thân
Dẫu không mời chào vẫn đến
Hãy cứ ân cần tiếp đón!
…Và biết ơn bất kỳ ai tới,
Vì họ là sứ giả đến thăm
Được cử tới từ chốn trời xanh…”
Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011
BỤI ĐỜI NGƯỜI 1: VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ
Đức Phật chỉ cho chúng sinh biết về ngũ uẩn hình thành nên mỗi con người. Đó là Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn. Có thể hiểu giản dị, Sắc là thế chất – thể xác, Thọ là tình cảm – cảm xúc, Tưởng là tưởng tượng – hình dung, Hành là ý chí – chọn lựa (trong lời nói, việc làm, suy nghĩ), Thức là nhận thức – hiểu biết (tri thức).
Ngũ uẩn liên quan chặt chẽ với nhau, cái này liên quan đến cái kia, không tách biệt khỏi nhau. Nếu không đem tâm so sánh (tưởng) thì vạn vật đều như nhau, thế nhưng vì tưởng phân chia, sắp đặt mà tạo nên sự khác biệt và đặt tên riêng cho nó. Vì thế mà có núi, sông, hoa lá, cỏ cây, con người, con vật…
Một thiền sư đã viết:
Sắc như phù mạt, vì thân xác con người hợp tan như giọt nước trôi dạt đó đây, không định hướng.
Thọ như thủy bào, cảm giác vui khổ của thân và tâm đều bất thường ví như bong bóng nước, thật mong manh.
Tưởng như ảo ảnh, tri giác nhận biết giống như cảnh giả mà người lữ khách thường thấy trong sa mạc, không có thực.
Hành như hương giá, tác động thiện ác đều không vững chắc, ví như cây non dễ uốn theo chiều gió, khó kiên định.
Thức như ảo thuật, tri thức con người lay động biến ảo khôn lường như trò quỷ thật, dễ ngụy biện.
Ngũ uẩn tạo nên bản ngã con người, hình thành từ nhiều yếu tố bất định nên chính nó cũng không có thực vì luôn biến đổi, chuyển dịch không ngừng, nhưng không phải một cách ngẫu nhiên mà theo luật nhân quả luân hồi.
Đạo Phật là đạo căn cứ từ hiện thực mà diễn giải, chỉ cho chúng sinh cái đúng cái sai, cái ảo cái thực. Bản thân chúng sinh hiện hữu những gì? Chỉ là ngũ uẩn – Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức – Bỏ năm cái ấy không còn chúng sinh. Chúng sinh dựa vào năm cái đó để chấp mình làm ngã, từ đó mới có khổ đau, vui sướng, giàu sang, giận hờn, ghen tuông, hợp tan… Đức Phật chỉ cho biết đừng mang nặng (cố chấp) sai lầm đó nữa, nên đưa ra ngũ uẩn để chúng sinh thấy ngũ uẩn vô ngã, hơn nữa thân xác cũng chỉ như giọt nước có sinh tử biệt ly, theo lẽ vô thường. Vô thường là không có thực, vậy có nên cố chấp bám níu nó không?
Bởi vậy Đức Phật nói đến vô thường, vô ngã trong đời người. Từ đây Đức Phật chỉ cho chúng sinh cách đoạn diệt khổ đau bằng cách phá hủy vòng tròn luân hồi nhân quả, bắt đầu từ việc sống thanh tịnh, tuân thủ theo ngũ giới, nối tiếp đến nâng cao tuệ giác dần từng bước trong quá trình giữ vững sự tỉnh thức liên tục bằng con đường thiền quán (soi sáng tâm thức). Đó chính là Đạo Phật (con đường tu hành đúng đắn) dẫn đến cõi Niết bàn cực lạc, hết mọi khổ đau trần thế.
Sau khi đạt tới cảnh giới giác ngộ hoàn toàn, Đức Phập lòng hân hoan niềm vui chiến thắng bản thân, đã thốt lên những lời đầy cảm hứng sau đây:
Lang thang qua bao kiếp luân hồi,
Ta cố tìm nhưng rồi chưa gặp
….Ta nay chứng đắc Niết bàn,
Ái tham, dục vọng, hoàn toàn tiêu vong.
(Kinh Pháp cú)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

